Kể từ ngày 1/7/2026, Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 chính thức có hiệu lực, kéo theo hàng loạt thay đổi quan trọng trong công tác quản lý thuế. Điểm đáng chú ý là các quy định mới không chỉ rút ngắn thời gian xử lý đối với việc hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh sau khi người nộp thuế hoàn thành nghĩa vụ, mà còn thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính, mở rộng ứng dụng công nghệ số và nâng cao hiệu quả quản lý thuế.

Hoàn thiện chính sách, giảm bớt thủ tục hành chính
Để triển khai Luật Quản lý thuế, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 252/2026/NĐ-CP, đồng thời Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 86/2026/TT-BTC hướng dẫn quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
Các văn bản này thay thế nhiều quy định trước đây, đồng thời bổ sung cơ chế quản lý theo hướng hiện đại, tăng cường chuyển đổi số và giảm bớt các thủ tục không còn phù hợp.
Một trong những nội dung được quan tâm là quy định về tạm hoãn xuất cảnh đối với người nộp thuế. Theo quy định mới, thời gian xử lý việc hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh được rút ngắn đáng kể. Trường hợp người nộp thuế đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính nhưng thông tin chưa được cập nhật trên hệ thống, cơ chế xử lý mới cũng được bổ sung nhằm hạn chế ảnh hưởng đến việc xuất cảnh.
Ngoài ra, điều kiện để hủy bỏ quyết định tạm hoãn xuất cảnh được mở rộng, tạo điều kiện cho người nộp thuế nhanh chóng khôi phục quyền lợi sau khi đã hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ với ngân sách nhà nước.
Điều chỉnh nhiều quy định về thực hiện nghĩa vụ thuế
Không chỉ sửa đổi nội dung liên quan đến xuất cảnh, Nghị định số 252/2026/NĐ-CP còn cập nhật nhiều quy định trong quá trình quản lý và thực hiện nghĩa vụ thuế.
Đối với lĩnh vực dầu khí, quy định mới cho phép doanh nghiệp tạm nộp thuế xuất khẩu và thực hiện kê khai điều chỉnh khi chưa xác định được giá chính thức tại thời điểm đăng ký tờ khai hải quan. Quy định này giúp bảo đảm sự thống nhất giữa pháp luật về thuế và pháp luật hải quan.
Một thay đổi khác là cơ quan Hải quan không còn phải ban hành thông báo thuế khi thực hiện ấn định thuế, qua đó cắt giảm một bước thủ tục hành chính.
Về gia hạn thời gian nộp thuế, các mốc thời gian được quy định cụ thể hơn. Người nộp thuế chịu thiệt hại bởi thiên tai, thảm họa hoặc các sự kiện bất khả kháng có thể được gia hạn tối đa hai năm tính từ thời điểm xảy ra sự kiện. Trường hợp phải ngừng hoạt động do di dời cơ sở sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền sẽ được gia hạn tối đa một năm kể từ ngày ngừng hoạt động.
Đối với hồ sơ thuộc diện kiểm tra trước khi hoàn thuế, cơ quan Hải quan phải ban hành quyết định hoàn thuế hoặc thông báo hồ sơ chưa đủ điều kiện hoàn thuế trong thời hạn không quá 10 ngày làm việc kể từ khi kết luận kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế.
Đáng chú ý, quy định chuyển hồ sơ từ diện “hoàn trước, kiểm tra sau” sang “kiểm tra trước, hoàn sau” trong trường hợp người nộp thuế không giải trình hoặc giải trình chưa đầy đủ đã được bãi bỏ.
Quy định rõ hơn về chuyển đổi doanh nghiệp và quản lý nợ thuế
Liên quan đến việc chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, quy định mới xác định doanh nghiệp sau chuyển đổi sẽ tiếp nhận toàn bộ quyền và nghĩa vụ về thuế của doanh nghiệp trước đó, bao gồm các khoản thuế phải nộp, số thuế giá trị gia tăng còn được khấu trừ cũng như khoản thuế đã nộp thừa.
Trong công tác quản lý nợ thuế, Nghị định bổ sung quy định không thực hiện khoanh nợ đối với chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc địa điểm kinh doanh đã chấm dứt hoạt động nếu doanh nghiệp chủ quản vẫn đang hoạt động bình thường. Thời điểm tính thời gian khoanh nợ được xác định từ ngày cơ quan thuế ban hành quyết định khoanh nợ.
Đối với biện pháp cưỡng chế thuế, tổ chức có số tiền nợ dưới 3 triệu đồng và cá nhân, hộ kinh doanh nợ dưới 1 triệu đồng sẽ chưa bị áp dụng biện pháp cưỡng chế, ngoại trừ trường hợp không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký.
Đẩy mạnh quản lý thuế trên nền tảng số
Bên cạnh các thay đổi về chính sách, Thông tư số 86/2026/TT-BTC tập trung thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
Theo đó, hầu hết hồ sơ thuế được thực hiện bằng phương thức điện tử. Người nộp thuế gửi hồ sơ thông qua Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan, trong khi toàn bộ quá trình tiếp nhận, xử lý và trả kết quả cũng được thực hiện trên môi trường số.
Hình thức điện tử được áp dụng cho nhiều thủ tục như khai thuế, miễn hoặc giảm thuế, hoàn thuế, xử lý tiền thuế nộp thừa, gia hạn thời hạn nộp thuế, miễn tiền chậm nộp, xóa nợ, nộp dần tiền thuế còn nợ và ấn định thuế.
Thông tư cũng điều chỉnh thẩm quyền giải quyết hồ sơ phù hợp với mô hình tổ chức mới của cơ quan Hải quan và định hướng xây dựng Hải quan số, đồng thời cắt giảm một số thành phần hồ sơ không còn cần thiết nhằm rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục.
Hoàn thiện cơ chế kiểm tra và xử lý sau hoàn thuế
Trong lĩnh vực kiểm tra thuế, Thông tư quy định rõ trách nhiệm của người nộp thuế cũng như cơ quan Hải quan, đồng thời bổ sung cơ chế kiểm tra lại khi phát hiện dấu hiệu vi phạm chưa được xử lý đầy đủ.
Đối với công tác kiểm tra sau hoàn thuế, trình tự thực hiện và việc thu hồi khoản hoàn thuế không đúng quy định được hướng dẫn cụ thể hơn. Đồng thời, việc kiểm tra quá trình sử dụng hàng hóa miễn thuế cũng được bổ sung nhằm ngăn ngừa tình trạng lợi dụng chính sách ưu đãi.
Ngoài ra, trách nhiệm của cơ quan Hải quan, cơ quan Thuế và người nộp thuế trong xử lý các khoản thuế giá trị gia tăng nộp thừa được quy định rõ ràng hơn, góp phần thống nhất quy trình giải quyết và hạn chế phát sinh vướng mắc trên thực tế.
Theo đánh giá của cơ quan Hải quan, những quy định mới tại Nghị định số 252/2026/NĐ-CP và Thông tư số 86/2026/TT-BTC thể hiện định hướng cải cách mạnh mẽ trong quản lý thuế. Không chỉ tạo thuận lợi hơn cho người nộp thuế khi thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước, các chính sách mới còn tăng cường ứng dụng dữ liệu điện tử, nâng cao hiệu quả quản lý và đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số trong hoạt động hải quan, thuế.
